Xuất phát điểm là một vài giàn cố định với một vài tuyến đường ống đơn giản để phục vụ vận chuyển dầu từ giàn về tàu chứa, khí đốt ngay tại giàn, ngày nay chúng ta đã có một mạng lưới vận chuyển khổng lồ có khả năng vận chuyển và xử lý trên 300,000 thùng dầu tách khí/ng. đêm, 6 triệu m3 khí từ các công trình biển về giàn nén trung tâm lớn và nhỏ để vận chuyển về bờ, hoặc phục vụ sản xuất với mục đích khác.
Trên mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng các giàn khoan được xây dựng cách nhau từ 2-3 km đến hàng vài chục km. Việc vận chuyển dầu từ các giàn khai thác về thẳng tàu là một vấn đề phức tạp, phải được thiết kế một cách tối ưu để đảm bảo đưa được một khối lượng lớn sản phẩm về tàu với hàm lượng khí tách triệt để và hàm lượng nước nhỏ nhất.
Sau thời gian dài, với nhiều cải tiến lớn nhỏ của tập thể CBCNV Xí nghiệp Khai Thác dầu khí cùng với Viện nghiên cứu Khoa Học thiết kế của XNLDDK Việt Xô, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống thu gom xử lý rất tối ưu:
§ Trước hết đó là tính an toàn của hệ thống. Mặc dầu được thiết kế sửa chữa nhiều lần song hệ thống thu gom và vận chuyển trên mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng luôn đảm bảo khả năng an toàn. Với điều kiện làm việc thấp hơn áp suất chịu đựng của đường ống thiết bị tới 1,5 lần, cho nên quá trình xử lý và vận chuyển chúng ta có thể đảm bảo xử lý kịp thời các sự cố rò rỉ hay tắc nghẽn mà không làm gián đoạn quá trình sản xuất cũng như sự ảnh hưởng của môi trường.
§ Hệ thống bảo vệ ngày càng hoàn thiện theo tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001-2008. Các hệ thống bảo vệ hệ thống thu gom xử lý và vận chuyển được kết nối theo dõi từ xa, được kiểm tra sửa chữa thường xuyên đảm bảo sự hoàn hảo và giúp cho những người vận hành phát hiện sớm các sự cố có thể xảy ra để ngăn ngừa và khắc phục kịp thời.
§ Các qui trình vận hành ngày càng hoàn thiện theo tiêu chuẩn chất lượng và có sự thống nhất trên toàn mỏ, đảm bảo sự nhịp nhàng và tính qui luật của của công việc. Việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001-2008 giúp cho Xí nghiệp phát huy tối đa nguồn nhận lực và hiệu quả trong công việc vận hành và sửa chữa, cũng như nâng cao năng lực, khả năng vốn có của cán bộ công nhân viên của mình.
§ Khả năng dự phòng trong hệ thống xử lý và vận chuyển dầu, khí của chúng ta đã đạt mực độ rất cao, có thể nói là tối ưu. Chúng ta đã có một hệ thống đường ống vận chuyển vòng cho cả hai mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng. Theo sơ đồ hệ thống vận chuyển, từ vòm Bắc của mỏ Bạch Hổ (các giàn từ 3 đến 11) có thể vận chuyển theo hai hướng khác nhau để đưa dầu và khí về giàn công nghệ trung tâm hay tàu chứa dầu và giàn nén khí lớn và nhỏ. Tính ưu việt của hệ thống đã cho chúng ta đảm bảo tính liên tục của quá trình khai thác, xử lý và vận chuyển khi phải bảo dưỡng, sửa chữa một phần của hệ thống. Điều này thường xuyên xảy ra như công việc sửa chữa các ống đứng của đường ống ngầm, khám nghiệm bình, sửa chữa hệ thống thu gom, hay khắc phục sự cố trong quá trình khai thác dầu..v.v.
§ Trung tâm xử lý dầu, khí, nước là 2 giàn CNTT- 2 và 3. Tại đây dầu được tách khí và nước tới độ tiêu chuẩn sau đó dầu được vận chuyển về tàu chứa, nước sau khi đã xử lý được thải xuống biển, khí được vận chuyển về giàn nén trung tâm để đưa về bờ, hoặc tạo khí Gaslift, phục vụ cho khai thác dầu. Việc vận chuyển, phân chia dòng sản phẩm giữa hai giàn CNTT và tàu chứa là rất tối ưu. Tại giàn CNTT số 2 tập trung các đầu mối đến và đi của các dòng sản phẩm từ mỏ Bạch Hổ và Rồng. Tại đây dầu, khí đựơc vận chuyển dưới tất cả các dạng dầu tách khí, dầu khí hoặc khí từ hầu hết các công trình và được phân chia theo mục đích của các dạng sản phẩm để đưa đến điểm cuối một cách an toàn.
§ Khả năng xử lý dầu khí nước tại hai giàn CNTT là rất cao. Chúng ta có thể xử lý nước xả biển tới hàm lượng dầu trong nước dưới 15 PPM. Lượng nước trong dầu sau khi qua xử lý tại hai giàn CNTT 2 và 3 trước khi bơm về tàu chứa luôn đạt dưới 0.5 đến 1 %. Với công suất hiện tại, hai giàn CNTT có khả năng nhận xử lý các sản phẩm dầu khai thác từ các mỏ lân cận như Hoàng Long, Hoàn Vũ, Nam Rồng - Đồi Mồi v.v.
§ Với hệ thống vận chuyển hiện tại, chúng ta đã thành công trong việc vận chuyển sản phẩm dầu của mỏ Rồng lên mỏ Bạch Hổ, cụ thể là về giàn CNTT số 2 để xử lý nước. Dầu mỏ Rồng là dầu tương đối đặc biệt khó vận chuyển, hàm lượng khí đồng hành thấp, lượng nước trong dầu, hàm lượng parafin cao, khoảng cách giữa mỏ Rồng và Bạch Hổ lại rất lớn (trên 45 km). Song với quyết tâm và ý chí cao, cùng với những ứng dụng công nghệ mới, tập thể CBCNV Xí nghiệp Khai thác dầu khí đã lập được một qui trình vận hành chính xác để vận chuyển trên nửa triệu m3 dầu từ mỏ Rồng lên mỏ Bạch Hổ để xử lý nước, đảm bảo an toàn cho sản xuất và hoàn thành kế hoạch nhà nước.
Là đơn vị đầu tiên khai thác dầu ở thềm lục địa phía Nam, XNKT không ngừng hoàn thiện hệ thống khai thác, vận chuyển và xuất dầu thô, bảo đảm vận hành liên tục hệ thống ngay cả trong mùa gió chướng. Việc dừng sửa chữa hệ thống khai thác hàng năm giảm đến mức tối thiểu, bảo đảm cho các giếng khai thác dầu được vận hành với thời gian làm việc tối đa. Các biện pháp cụ thể như sau:
· Xây dựng những hệ thống tách dầu khí và những tuyến ống vận chuyển dầu khí dự phòng.
· Đưa condensát bằng đường ống từ mỏ Bạch Hổ qua mỏ Rồng để trộn với dầu có nhiệt độ đông đặc cao của mỏ Rồng nhằm vận chuyển dầu của mỏ Rồng về mỏ Bạch Hổ trong thời gian dừng tàu chứa dầu Chí Linh để sửa chữa.
· Hoàn thiện đưa vào hoạt động hệ thống điều khiển gaslift và cải tạo hệ thống thu gom dầu khí của RP-3 đảm bảo sự ổn định và an toàn cũng như hiệu quả công nghệ khai thác bằng gaslift trên RP-3.
· Hoàn thiện hệ thống vận chuyển dầu không máy bơm trên các giàn 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và đưa vào làm việc.
· Cải hoán và đưa đường ống ép vỉa tuyến MSP1 - BK1 - BK5 - BK4 - BK8 - RP-3 vào làm việc, đảm bảo việc vận chuyển nước bơm ép cho các BK và mỏ Rồng.
· Cải hoán và đưa đường ống Gaslift từ mỏ Bạch Hổ về mỏ Rồng vào làm việc, tăng sản lượng khai thác giàn RP-3 lên gấp đôi.
· Hoàn thành việc xây dựng, kết nối và đưa mỏ Cá Ngừ Vàng vào khai thác trên giàn CNTT-3.
· Rút ngắn tối đa thời gian dừng tàu chứa dầu khi chuyển đổi để đi sửa chữa định kỳ và thay thế tàu mới vào vị trí thay thế đó.